Jul 18

Jul 18, 2017
Linda Lê, năm nay, 2017
Cuốn tiểu thuyết mới của Linda Lê:
Thêm một lần nữa, giống như năm 2012 và năm 2016, tôi không nghĩ ra một cái nhan đề post nào khác, đây đã là lần thứ ba “Linda Lê, năm nay”.
Héroïnes vừa được in, trong khi tại Việt Nam ba bản dịch đang chuẩn bị xuất hiện. Cũng giống vài lần khác, Linda Lê cho xuất bản cùng lúc một tiểu thuyết và một tập tiểu luận. Chắc ta sẽ sớm có thể nói đến tập tiểu luận mới. Dường như tôi đã nói đến tất cả các tập tiểu luận của Linda Lê, nhất là Le Complexe de Caliban và Par ailleurs (exils).
Héroïnes là một cuốn tiểu thuyết rực rỡ. Nó sáng, rất sáng, một màu lạ, mà bức tranh của Goya được chọn làm bìa sách nói lên rất rõ. Chỉ có ánh sáng đích thực nếu có một bề dày của bóng tối.
Héroïnes đặt lại vấn đề Việt Nam. Việt Nam là gì? Đối với những người sinh ra ở nước ngoài, trong các khoảng diaspora khác nhau, nhất là những người sinh sau 1975, Việt Nam có thể là gì? Việt Nam, đối với những người bị chấn thương tâm lý do suốt hồi nhỏ phải có mặt ở những bữa ăn gia đình ngày Chủ nhật (rất đông) trong đó chỉ vài câu chuyện lặp đi lặp lại suốt năm suốt tháng, về những điều mà những đứa trẻ không thực sự hình dung được, đối với những người biết rất rõ giấc mơ của người lưu đày, người sống bên ngoài, thấy mình mở miệng nói nhưng không biết ngôn ngữ nào sẽ bay ra, và rốt cuộc không thể nói được điều gì, đối với những người như thế, mà trong Héroïnes là V. (một thanh niên ngoài hai mươi tuổi đã có vài cuộc tình với phụ nữ thuộc nhiều lứa tuổi, định viết một luận án tiến sĩ văn chương về Kafka nhưng rồi bỏ dở), Việt Nam, mà họ chối bỏ khôn nguôi, rồi khi không chối bỏ được nữa tìm cách tiếp cận nhưng ban đầu bao giờ cũng đi theo các ngả đường vòng (qua Trung Quốc, qua Nhật Bản etc.), trong sự ngây thơ của tuổi trẻ, và mãi cho đến lúc sự ngây thơ này bị bào mòn đi không ít thì nhiều, họ mới lờ mờ hình dung được: Việt Nam là một hố đen, một vực thẳm; câu hỏi chỉ còn lại là, có nhảy xuống vực hay không, ở lại trên miệng vực chưa chắc đã là sống, và đã tới lúc không còn bất kỳ nơi nào khác để đi, vực thẳm thì hút con người.
Cuốn tiểu thuyết của Linda Lê động tới một trong vài điều thực sự nằm trong trung tâm cuộc sống diaspora Việt Nam: nhạc boléro.
Tiểu thuyết nói những điều mà không một cách thức diễn đạt nào khác có thể nói được. Chỉ có tiểu thuyết khi điều này xuất hiện. Héroïnes bước vào những khoảng không thể thăm dò, và như thể mang một châm ngôn bao trùm: “hãy ở trong bóng tối”. Hãy thực sự ở trong bóng tối, bởi vì chỉ khi ấy, rất có thể, mới có ánh sáng.
Một độc giả của Linda Lê trong khi đọc một cuốn tiểu thuyết như Héroïnes, ngoài nhiều điều khác, sẽ tự hỏi ngầm bên dưới, giọng nói nào sẽ định giọng và tạo nhịp cho tác phẩm. Ở Héroïnes, đó là Thomas Bernhard, và cụ thể hơn, đó là Auslöschung của Bernhard.
Và bộ khung của cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về hai người viết thư cho nhau (xem thêm bài “Sức mạnh của sự vắng” dưới đây, tiểu luận này được viết cùng lúc với cuốn tiểu thuyết): “V. et sa correspondante avaient commencé à s’écrire durant les premières années du XXIe siècle. Au début, leurs échanges tournaient essentiellement autour de la célèbre chanteuse vietnamienne qui, au lendemain de la capitulation de Saigon, le 30 avril 1975, s’était exilée (enfuie) aux États-Unis puis en France.”
Nhân nói chuyện, chỉ những kẻ mê viết…
GCC có lần thú thực, không đọc được Linda Lê, văn, nhưng rất mê Linda Lê, tiểu luận.
Đây là vấn đề tạng văn, tạng người. Có thể nói, Gấu chỉ đọc được có 1 Faulkner, và với Faulkner, cũng chỉ có 1 cuốn “Absalom, Absalom!”
Vẫn, có thể nói, giả như không đọc “Absalom, Absalom!”, là không có GCC!
Cái đoạn văn mở ra cõi văn của GCC, post sau đây, đúng là cái đoạn văn mà hồi mới viết, Gấu cứ phải lôi ra tụng, lấy hứng, và chôm, 1 câu, hay 1 ý nào đó, rồi từ đó, phóng ra, phóng tới:
From a little after two o’clock until almost sundown of the long still hot weary dead September afternoon they sat in what Miss Cold field still called the office because her father had called it that-a dim hot airless room with the blinds all closed and fastened for forty-three summers because when she was a girl someone had believed that light and moving air carried heat and that dark was always cooler, and which (as the sun shone fuller and fuller on that side of the house) became latticed with yellow slashes full of dust motes which Quentin thought of as being flecks of the dead old dried paint itself blown inward from the scaling blinds as wind might have blown them. There was a wisteria vine blooming for the second time that summer on a wooden trellis before one window, into which sparrows came now and then in random gusts, making a dry vivid dusty sound before going away: and opposite Quentin, Miss Cold field in the eternal black which she had worn for forty three years now, whether for sister, father, or nothusband none knew, sitting so bolt upright in the straight hard chair that was so tall for her that her legs hung straight and rigid as if she had iron shinbones and ankles, clear of the floor with that air of impotent and static rage like children’s feet, and talking in that grim haggard amazed voice until at last listening would renege and hearing-sense self-confound and the long-dead object of her impotent yet indomitable frustration would appear, as though by outraged (recapitulation) evoked, quiet inatten….
Bạn so sánh đoạn trên, với khúc sau đây, trong Tứ Tấu Khúc:
Mùa Hè Miền Nam
Căn nhà gỗ, vách ván, nền tráng xi măng, mái thấp, đứng ở ngoài hiên, hơi kiễng chân có thể lùa tay dọc theo con máng, lùa mớ lá khô, rồi sau đó, lấy rẻ ướt vét sạch lớp bụi cát do những chuyến xe đò chạy trên đường lộ lùa tới, lưu cữu dưới lòng máng sâu, mùi xăng nhớt lẫn trong luồng hơi nóng bị vách ván cùng những cánh cửa sổ đóng kín, ngăn chặn, quanh quẩn trong hiên, đánh thức những giấc ngủ trưa chập chờn, bài hoải trên chiếc ghế bố ở cuối hiên, đánh thức luôn những xúc động nhỏ nhặt, những ước muốn mơ hồ, không rõ rệt… Một lần giở một khúc máng gỉ nát tính sửa chữa, tình cờ tìm lại được cả một tập thư tình viết cho L.H. Những bức thư tình viết đầu tiên trong đời, trong đêm khuya, dưới ánh đèn lén lút chiếu sáng vừa đủ trang giấy, lo sợ, không phải ánh sáng đèn, nhưng mà là những xúc động rồn rập (nhiều lúc làm nghẹt thở), làm mọi người thức giấc; càng về khuya, chữ càng thêm năng nề, nhưng vẫn không thể nói hết, thỉnh thoảng viết được một vài điều thật cảm động, (những kể lể sướt mướt, những lời nói họa hoằn của nàng vẫn còn đọng lại, tiếng cười, cử chỉ của nàng khi vẫy tay từ giã, hẹn kỳ hè tới sẽ gặp lại…), vội vã tắt đèn, ngồi yên lặng trong bóng tối, sợ hãi chính nỗi xúc động của mình, chúng có thể gây nên những tiếng động lịch kịch như tiếng bàn ghế di chuyển, làm ngọn đèn cháy sáng trở lại, nỗi xúc động giống như nỗi cô đợn nhiều khi đột nhiên thái quá, làm ngây ngất, khó chịu. Những bức thư viết nhưng không bao giờ gửi, không phải sự sợ hãi, không phải quá rụt rè khi gặp nàng, nhưng mỗi lần tính đưa, thì một cử chỉ vô tình của nàng làm khựng lại, ngay chính người đưa thư cũng nhận ra sự vô ích, thừa thãi, nhưng tại sao vẫn…. Tưởng tượng nếu nàng đọc những bức thư đó, có cảm giác chết cứng vì tủi hổ, nỗi cô đơn đột nhiên bị tước đoạt, cảm giác trần truồng trước mặt nàng, trước người khác… Những bức thư được giấu kỹ trong đống sách vở, ở dưới đệm giường, ở dưới lòng máng, chỗ an toàn nhất không sợ chị Thu lục lọi ngăn kéo hộc bàn tìm mẩu viết chì, thỏi gôm, lật những cuốn tập, vô tình thấy, tò mò đọc, chắc chắn sẽ cười cợt, chế giễu, nhưng có thể sẽ thương hại; xấp giấy được giấu kỹ như những món quà, bánh được ba má chia đều cho hai chị em, thường để dành, tìm chỗ cất giấu, nhiều khi mải chơi, quên luôn, khi nhớ tìm lại, kiến bu quanh, hoặc chuột đã tha đi đâu mất tích, xấp giấy nay cũng bị gián nhấp tả tơi, chữ thiếu hụt, chỗ còn mất, nước mưa làm nhiều chỗ trở nên trắng bệch, mất cả buổi sáng tìm cách vá víu, chắp nối, nhưng không thể, quá khứ…
Mái lợp ngói nâu, vẻ cũ kỹ, mốc thếch, vườn cây vây quanh nhà, con kinh đào dẫn nước luân lưu khắp vườn, sau cùng đổ những trái dừa, trái cam hư thối ra nhánh sông sau nhà, một chiếc xuồng lập úp, vùi giữa đống lá dưới bóng một thân cây lớn, chủ nhật hay ngày lễ, nhất là vào dịp nghỉ hè, L. H. từ Sài Gòn lên vườn thăm chị Thu, sẽ đưa nàng đi chơi xuồng, cả hai len lỏi giữa những vùng trời nước im lặng, tiếng mái chèo đập nước làm át tiếng tim đập mạnh, giả đò thở hổn hển vì mệt chứ không phải vì quá xúc động… hoặc đậu xuồng dưới đám lá cây dầy đặc che hết ánh nắng (nàng bỏ kính che mắt, trong bóng mát, ánh mắt chợt long lanh, có thể nàng biết… tinh nghịch nhúng tay xuống nước, bóng nàng vỡ ra từng mảnh, chụm dần lại… biết tôi đang đăm đăm, ngơ ngẩn nhìn….), hoặc chìm mất giữa đám sậy nhỏ, những lần đi quá xa, tiếng chị Thu từ trên bờ gọi trở về dùng cơm vọng nước tới làm tắt ngấm những lời dự định nói, cuối cùng vẫn chỉ là những lời vu vơ, những hỏi han về việc học, về thành phố Sài Gòn đã lâu chưa có dịp xuống chơi, về một vài dự tính trong tương lai (nàng nói, sẽ học y khoa, chữa bệnh cho mọi người nhưng không cho riêng ai, tâm sự của mỗi người cũng chỉ là một chứng bệnh, rồi sẽ qua đi, chẳng cần chữa trị…), tất cả những gì còn lại được giấu kín như những bức thư chẳng bao giờ gửi, như những lần tự nhủ, trước khi nhập ngũ, sẽ gặp nàng một lần, và sau đó sẽ bỏ đi, sẽ mất tích trong cuộc chiến, hoặc cũng chẳng cần cuộc chiến, sẽ cố gắng quên hết, cố gắng làm lại từ đầu, giả sử như chưa từng gặp nàng, như những lần lang thang nơi khu phố nàng ở, (gần một ngã sáu, khu trung tâm thành phố, sinh hoạt đông đảo, một cửa tiệm bán sách vở, dụng cụ văn phòng, nàng thường ngồi sau một chiếc bàn lớn ở gần phía bên ngoài, gần cửa ra vào, phóng xe qua thật nhanh, hơi nhìn ngang, có thể thoáng thấy nàng ngồi chăm chú, viết, hoặc lơ đãng nhìn ra bên ngoài, làm sao nàng có thể nhận ra…), hoặc ghé xe bên lề đường, mua tờ báo, bao thuốc, hoặc ngồi uống cà phê ở quán Tầu phía bên kia đường, ngó những đứa trẻ đánh giầy chia nhau tiền bạc, giành giật khách, hay mẩu thuốc, khi ra về thường quá khuya, vòng xe qua con đường phía sau nhà nàng, ngó nhìn lên, có thể bóng dáng nàng sẽ hiện ra nơi khung cửa sổ trên lầu cao, che bớt ánh đèn lạnh toát, thỉnh thoảng bị mưa, ướt sũng, run lập cập, cần nhất là không bao giờ kể lể than khóc với nàng về ba chuyện đó, và nàng cũng chẳng bao giờ biết, hoặc hiểu được, nàng đến từ phía bắc, từ một thành phố có mưa phùn, có gió bấc, có rét mướt, băng giá, và nàng mang theo cùng với nàng chút giá băng, lạnh lùng, một chút tẻ nhạt, nàng đứng ở bên ngoài đời sống cô đơn, rực lửa, quạnh hiu của tôi, ở ngoài những nao nức, những băn khoăn, những mơ mộng của cả một thời niên thiếu, ở ngoài sự kiêu ngạo muốn đạp đổ tất cả, muốn xua đẩy nỗi giá băng, lòng lo lắng sợ sệt, muốn được nàng an ủi, vỗ về, nàng đứng ở đâu đó ở bên ngoài cuộc đời của tôi, như một người đứng ở chỗ sáng ngó vào chỗ tối, nàng không thể thấy, không thể biết, nhưng thôi, thôi, Ngọc, Ngọc, cố gắng quên đi, cố gắng đừng thủ dâm nữa, đừng nói gì cả….
Sơ Dạ Hương.
Văn Linda Lê, hay cái đẹp, theo Bà, là phải dữ dằn, quằn quại, trật trìa, loạng quạng… hình như bà, hay giới phê bình, hay dùng những chữ này.
Không có Gấu ở trong đó!
See Translation

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *