TỪ KHI NÀO NGƯỜI TRUNG QUỐC THÀNH GIỐNG NGƯỜI CHÂU Á THƯỢNG ĐẲNG

TỪ KHI NÀO NGƯỜI TRUNG QUỐC THÀNH GIỐNG NGƯỜI CHÂU Á THƯỢNG ĐẲNG, VIỆT NAM TRUNG ĐẲNG VÀ CAMPUCHIA HẠ ĐẲNG? CHỦ NGHĨA PHÂN BIỆT CHỦNG TỘC Ở ĐÔNG DƯƠNG ĐƯỢC TẠO RA BỞI KHOA HỌC THỰC DÂN NHƯ THẾ NÀO
(Nguồn gốc của chủ nghĩa dân tộc bài ngoại và sự cần thiết phải nghiên cứu về lịch sử của khoa học tại Việt Nam)
Câu trả lời cho câu hỏi KHI NÀO là “dưới thời Pháp thuộc (1880-1945)”!!!
Dĩ nhiên, sự phân biệt giữa những nhóm người khác nhau, trong đó nhóm người này được coi là ƯU VIỆT hơn nhóm người khác đã từng tồn tại từ rất lâu trong lịch sử khu vực. Nhưng TIÊU CHÍ để “xếp loại” thường dựa vào: 1) vị trí địa lý (xa hay gần trung tâm văn minh, “Trung Nguyên”), 2) trình độ tiếp nhận và “khả năng đại diện” cho văn hóa Khổng giáo, hay 3) cảm giác về sự thịnh vượng, bình yên, giàu nghèo của một cộng đồng này so với một cộng đồng khác.
Khi Trung Quốc bị xâm chiếm bởi những người “dị tộc”“kém” văn minh hơn (Mông Cổ, Mãn Thanh) thì cả ở Việt Nam, Hàn Quốc và cả Nhật Bản đều tồn tại quan niệm cho rằng họ mới là trung tâm thực sự của văn minh, là nhóm người THƯỢNG ĐẲNG vì bảo tồn được văn hóa của Trung Nguyên thực sự. Còn Trung Quốc do bị “mọi rợ hóa” bởi đám người Mông, Mãn, nên đã đánh mất giá trị của văn minh Trung Nguyên, vì thế trở thành HẠ ĐẲNG.
Những khác biệt về hình thể, thể chất “sinh học” KHÔNG PHẢI là một tiêu chí để phân biệt những nhóm cộng đồng THƯỢNG ĐẲNG hay HẠ ĐẲNG. Trái lại, trong khu vực, những người kì hình dị tướng TỪNG ĐƯỢC COI là những người có thiên chất, tư chất, tài năng đặc biệt, chứ không phải những giống người HẠ CẤP.
Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc (racism) với tư cách là sự KỲ THỊ và THÀNH KIẾN dựa trên kiến thức sai lầm cho rằng một nhóm người mang ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC – THỂ CHẤT nhất định sẽ có những PHẨM CHẤT – GIÁ TRỊ TINH THẦN, XÃ HỘI cao hơn hoặc thấp hơn so với những nhóm khác, CHỈ XUẤT HIỆN ở Việt Nam khi có những tiếp xúc với phương Tây.
Nó sinh ra, bắt đầu từ những phòng thí nghiệm và bệnh viện, nhân danh “sự đúng đắn của khoa học”, và theo chân những người Pháp vào Đông Dương.
Thời kỳ ấy, bác sĩ và những nhà nhân chủng học người Pháp khi đến Đông Dương đã mang trong mình những thành kiến (đến nay đã được chứng minh) “sai lầm” về sinh học và y tế, cùng thái độ phân biệt chủng tộc vốn đã rất phổ biến ở phương Tây. Dĩ nhiên, họ coi những người phương Tây DA TRẮNG LÀ THƯỢNG ĐẲNG, DA VÀNG LÀ HẠ ĐẲNG.
Trong số nhóm da vàng hạ đẳng, người Pháp tìm cách phân biệt nhóm nào ít/nhiều “hạ đẳng hơn”.
Trong những ghi chép khoa học của những người Pháp đó, cộng đồng người Trung Quốc, tuy là thiểu số ở Việt Nam, “khỏe mạnh hơn”, “cao hơn”, “thân mình to lớn hơn”, đặc điểm hình thể “đẹp hơn”, và đặc biệt, có làn da “sáng hơn” người Việt Nam. Cộng đồng người Trung Quốc trong con mắt người Pháp, cũng có vị trí và thế lực kinh tế mạnh hơn, giàu có hơn người Việt Nam. (Nguyễn Thùy Linh 2016). Vì thế, người Trung Quốc là GIỐNG CHÂU Á “XỊN HƠN”, GIỐNG DA VÀNG THƯỢNG ĐẲNG ở Đông Dương.
Người Việt Nam là GIỐNG NGƯỜI cực kỳ yếu ớt, nhược tiểu về thể hình thể trạng. Do bởi yếu ớt, nhỏ bé về thể trạng, tuổi thọ của người Việt Nam hết sức ngắn ngủi. Chỉ một phần mười dân số là sống đến 60 tuổi. Những người Việt Nam nào có vẻ khỏe mạnh to béo thì hầu hết là do lai tạp dòng máu của người Trung Quốc, hoặc do họ có thói quen của người Phương Tây trong ăn uống (Nguyễn Thùy Linh 2016). Người Việt Nam có làn da sáng hơn, có vẻ văn minh hơn người Cambodians nên họ là giống người DA VÀNG TRUNG ĐẲNG ở Đông Dương.
Người Cambodians đứng TRÓT BẢNG trong phân loại của người Pháp. Những nhà khoa học Pháp thời đó cho rằng người Cambodians có những đặc điểm giải phẫu tồi tệ. Người Cambodians gần gũi với những người Mã Lai với làn da tối màu, nâu thẫm, và gần như là bọn da đen. Đời sống vật chất của họ cũng ở tình trạng “hoang dã” hơn so với người Việt Nam. Vì thế, cho dù chiều cao trung bình của họ hơn người Việt Nam 6cm, và khỏe mạnh hơn, họ vẫn đứng bét trong bảng xếp hạng giá trị ĐẠO ĐỨC và TÂM LÝ con người của người Pháp (Nguyễn Thùy Linh 2016). Họ là giống DA VÀNG HẠ ĐẲNG ở Đông Dương.
Tất cả đọc hết sức nực cười từ góc độ khoa học của chúng ta bây giờ. Nhưng đó đã từng là quan niệm được coi là quan điểm THUẦN TÚY KHOA HỌC, ĐÚNG ĐẮN, CÔNG BẰNG, HOÀN TOÀN KHÁCH QUAN và KHÔNG THỂ CHỐI BỎ vào thời kỳ thuộc Pháp. Nó là sản phẩm của những phòng nghiên cứu và những nhà khoa học thực thụ. Người ta đã từng TIN vào nó cũng như chúng ta ĐANG TIN vào những giá trị “khoa học” của chúng ta bây giờ (cho đến một ngày ĐỨC TIN của chúng ta sụp đổ để xây dựng nên một-ĐỨC-TIN-chờ-sụp-đổ khác).
Do thành kiến “sai lầm” mà tưởng là KHOA HỌC và ĐÚNG ĐẮN về chủng tộc này, người Pháp thiết lập hệ thống chính sách xã hội, y tế, văn hóa riêng biệt cho từng nhóm người khác nhau dựa theo THỂ TRẠNG và ĐẶC ĐIỂM CHỦNG TỘC của họ.
Đơn cử như trong hệ thống chăm sóc y tế, những người da trắng sẽ được điều trị theo chế độ riêng, ở khu vực riêng. Những người bản địa Việt Nam và Cambodians (gồm Khmer) sẽ được điều trị với những pháp đồ điều trị phù hợp với THỂ TRẠNG và CHỦNG TỘC của từng giống người.
Điều này khiến cho sự phân biệt “chủng tộc” được BÌNH THƯỜNG HÓA trong hoạt động chăm sóc y tế của Đông Dương thời kì đó. Bác sĩ người Pháp thích chữa trị cho bệnh nhân da trắng hơn là bệnh nhân người bản địa. Họ đối xử với nhân viên y tế người bản địa (Cambodians, Việt Nam) như là người làm công, hay người phục vụ cho họ. Nếu buộc phải chữa trị cho người bản địa, bác sĩ người Pháp thích chữa cho bệnh nhân Việt Nam hơn là cho người Cambodian vì người Việt Nam được coi là có phẩm chất tốt hơn. Nhân viên y tế người Việt thì không thích phục vụ và điều trị cho bệnh nhân người Cambodian. Bệnh nhân người Cambodian vì thế CHỈ TIN TƯỞNG vào nhân viên y tế người Cambodian và luôn cảm thấy bị coi thường và căm ghét bởi người Việt Nam. Phản ứng tự nhiên là KHÔNG TIN TƯỞNG và CĂM GHÉT lại.
Điều này diễn ra trên mọi bình diện hoạt động xã hội khác, không chỉ trong hoạt động chăm sóc y tế.
Người Pháp thời kỳ đấy cho rằng cộng đồng người Trung Quốc sống ở Việt Nam KHÔNG ĐƯỢC TÍNH là người bản địa nằm dưới quyền quản trị của họ. Họ là những người “XỊN HƠN” về mặt chủng tộc với người Việt Nam và người Cambodian và vì thế họ KHÁC BIỆT và không thuộc về nơi này. Người Pháp coi những người Trung Quốc này là KHÁCH, là NGƯỜI NGOÀI và cũng là ĐỊCH THỦ tranh giành ảnh hưởng và quyền lợi kinh tế với họ ở Đông Dương. Chính vì vậy họ thực hành phân biệt đối xử với những nhóm người Trung Quốc này (Nguyễn Thùy Linh 2016, Micheline Lessard 2015).
Người Pháp không cho cộng đồng người Trung Quốc ở Việt Nam được hưởng phúc lợi xã hội như người Việt, chèn ép cộng đồng người Trung Quốc về mặt kinh tế, và xây dựng hình ảnh người Trung Quốc như những kẻ thao túng, bóc lột kinh tế xấu xa, buôn bán phụ nữ – trẻ em, và tội phạm máu lạnh (Micheline Lessard 2015). Sự kì thị, phân biệt đối xử diễn ra hàng ngày trong cuộc sống, trên báo chí và truyền thông thuộc địa khiến người Việt Nam bản địa, chiếm đa số, có thái độ tức giận và kì thị cộng đồng Trung Quốc thiểu số.
Dĩ nhiên rất nhiều nội dung, diễn ngôn “bài Trung Quốc” tiếp tục được hình thành ở những giai đoạn lịch sử sau này, song giai đoạn Pháp thuộc có thể coi là giai đoạn khởi đầu cho “truyền thống bài Trung Quốc”, “chống Tàu” và sự KÌ THỊ CHỦNG TỘC với người Trung Quốc của người Việt Nam.
Sau khi bán đảo Đông Dương dần được phân tách thành những QUỐC GIA độc lập, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc trên vẫn tồn tại và HÒA LẪN với chủ nghĩa dân tộc bài ngoại. Người Việt Nam ghét người Trung Quốc, người Cambodia tiếp tục ghét người Việt Nam, người Trung Quốc không đếm xỉa đến góc nhìn và thậm chí không biết đến sự tồn tại của người Việt Nam, cũng như người Việt Nam không quan tâm đến góc nhìn của người Cambodians. Sự thù hẳn chủng tộc – chủ nghĩa dân tộc bài ngoại trong khu vực hiện nay đã bắt nguồn từ KHOA HỌC PHƯƠNG TÂY, thứ đã từng được coi là THỰC TẾ KHOA HỌC, ĐÚNG ĐẮN, KHÁCH QUAN, CÔNG BẰNG và KHÔNG THỂ CHỐI BỎ.
Chúng ta luôn nghĩ rằng thế giới con người tạo ra khoa học. Nhưng chúng ta đã lầm. Chính KHOA HỌC đang tạo ra thế giới của chúng ta đang sống thông qua liên tục định hình và tái định hình cách chúng ta nhìn thế giới. Những thứ chúng ta tưởng là SỰ THỰC KHÁCH QUAN hóa ra là những ẢO ẢNH tạo ra bởi khoa học của chúng ta về thế giới này.
Từ những năm 1970s, Micheal Foucault đã nói không thể hay hơn về việc sau cách mạng Pháp – Mỹ, vai trò của những nhà khoa học, đặc biệt là những bác sĩ y khoa, đã dần trở thành những vị THÁNH THẦN MỚI. Những người có thể đưa ra những chân lý KHÔNG THỂ BỊ HOÀI NGHI về thế giới này. Những người có thể thay những vị THẦN CŨ giải quyết tất cả vấn đề của thế giới (Sự ra đời của những phòng khám – Khảo cổ học về quan niệm y học – The Birth of the Clinic: An Archaeology of Medical Perception)
Bruno Latour nói về SỰ THỰC KHOA HỌC đã được hình thành như một sản phẩm của xã hội con người như thế nào, và không có thứ chân lý khoa học nào mà KHÔNG BỊ CHI PHỐI bởi xã hội con người. Ông cho rằng thế giới này được tạo ra từ những phòng thí nghiệm. “Hãy cho tôi một phòng thí nghiệm, tôi sẽ TẠO RA thế giới”. (Đời sống phòng thí nghiệm – Quá trình tạo ra thực tế khoa học).
Những nghiên cứu của họ đang là cảm hứng cho ngành lịch sử khoa học, chứng minh bằng cách nào khoa học đã tạo và định hình xã hội con người trong quá khứ. Ngành này, là một mảng trống hoàn toàn trong khoa học lịch sử Việt Nam.
———————
Về tài liệu
Tất cả những tài liệu được sử dụng cho bài viết ngắn này
-Laboratory Life The Construction of Scientific Facts (1986) Bruno Latour
-Give me a Laboratory and I Will Raise the World (2013) Bruno Latour
-Childbirth, Maternity, and Medical Pluralism in French Colonial Vietnam, 1880-1945 (2016) Nguyen, Thuy Linh
-The Birth of the Clinic (1976) Foucault, Micheal
-“Human Trafficking in Colonial Vietnam” (2015) Micheline Lessard
Đều đã có bản điện tử trong Thư viện Nhân học
—————————
Thư viện Nhân học là một thư viện phi lợi nhuận, chúng tôi chủ trương TẬP HỢP TOÀN BỘ những tư liệu NGHIÊN CỨU hoặc PHỤC VỤ CHO NGHIÊN CỨU về VIỆT NAM ở nước ngoài bằng các thứ tiếng ANH – TRUNG – VIỆT – NHẬT – HÀN – PHÁP về một nơi để tiện cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước có cơ sở để tra cứu tư liệu phục vụ cho nghiên cứu của mình. ĐÂY SẼ LÀ THƯ VIỆN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU VIỆT NAM có quy mô LỚN NHẤT và HOÀN TOÀN KHÔNG CÓ BẤT KÌ HẠN CHẾ NÀO TRONG VIỆC SỬ DỤNG DỮ LIỆU.
Chi phí vận hành lưu trữ dữ liệu cực kỳ lớn, cộng với việc trả lương cho các bạn tình nguyện viên thu thập và chỉnh lý tư liệu liên tục trong một thời gian dài khiến chúng tôi bắt buộc phải thu phí tham dự là 500 ngàn đồng 1 năm
Thư viện hiện có 170 ngàn đầu tư liệu đã qua chỉnh lý và hơn 10 triệu đầu sách đang trong quá trình

70 Comments

Add a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *